1. Tổ chức Ngành Tư pháp
qua các giai đoạn lịch sử.
1.1. Ngành
Tư pháp trong giai đoạn 1945 - 1960.
Năm 1945,
ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 28/8/1945, Chính phủ lâm thời
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra Tuyên cáo thành lập Nội các Thống nhất Quốc gia
gồm 12 Bộ, trong đó có Bộ Tư pháp do Ông Vũ Trọng Khánh làm Bộ trưởng. Theo
Quyết định số 715/TTg ngày 7/11/1995 của Thủ tướng Chính phủ, ngày 28 tháng 8
trở thành “Ngày Truyền thống của Ngành Tư pháp Việt Nam”.
Sau cuộc
Tổng tuyển cử đầu tiên tháng 01/1946, Nghị viện (Quốc hội) đã bầu ra Chính phủ
Liên hiệp Kháng chiến, Bộ trưởng Bộ Tư pháp là Ông Vũ Đình Hoè. Chức năng,
nhiệm vụ và tổ chức của Bộ Tư pháp được quy định tại Nghị định số 37 ngày
01/12/1945, theo đó, Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm soạn thảo và tổ chức thi hành
các đạo luật về quyền tự do, dân chủ của cá nhân, về dân sự, thương sự, hình sự
và thủ tục tố tụng, tổ chức và quản trị các toà án, việc truy tố tội phạm, tư
pháp công an, thi hành các án phạt, quản trị các nhà lao và giáo dục tù nhân,
quản lý các viên chức toà án, viên chức ngạch tư pháp, luật sư, đại tụng viên,
thừa phát lại, hỗ giá viên, phụ trách công việc quốc tịch, thực hiện các hiệp định
tương trợ tư pháp và uỷ thác tư pháp với nước ngoài.
Tại địa
phương, theo Sắc lệnh số 63/SL ngày 22/11/1945 về tổ chức chính quyền địa
phương, trong giai đoạn 1945 - 1946, có 3 Sở Tư pháp được đặt tại Uỷ ban hành
chính 3 kỳ: Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ. Khi bước vào cuộc kháng chiến, theo Thông
lệnh số 12 NV-CT ngày 29/12/1946 về tổ chức tư pháp trong tình thế đặc biệt, Bộ
trưởng Bộ Tư pháp đặt ở mỗi khu hoặc liên khu một Sở Tư pháp để trông coi
việc tư pháp và giúp ý kiến cho Uỷ ban bảo vệ khu, liên khu (Uỷ ban hành chính
kháng chiến khu, liên khu). ở cơ sở, Ban Tư pháp xã gồm ban thường vụ của Uỷ
ban hành chính cấp xã kiêm cả việc tư pháp (có thẩm quyền hoà giải các vụ dân
sự, thương sự, phạt vi cảnh...).
Trong suốt
15 năm đầu của Nhà nước dân chủ nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng
và Chính phủ, đặc biệt là sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, Ngành Tư pháp đã đoàn kết, tập trung nỗ lực vào việc xây dựng nền tảng pháp
luật của Nhà nước dân chủ nhân dân và xây dựng, tổ chức nền tư pháp nhân dân
theo những nguyên tắc dân chủ, tiến bộ, đóng góp phần quan trọng vào thành công
của cuộc kháng chiến gian khổ, trường kỳ của dân tộc và đường lối xây dựng kinh
tế trong những năm đầu lập lại hoà bình ở miền Bắc.
Năm 1958,
theo Nghị quyết của kỳ họp thứ 8 của Quốc hội khoá I, Toà án nhân dân tối cao
và Viện Công tố Trung ương trực thuộc Chính phủ được thành lập, tách khỏi Bộ Tư
pháp. Sau đó, trên cơ sở Hiến pháp 1959, Luật Tổ chức Toà án nhân dân 1960 và
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1960, đã hình thành hệ thống Toà án nhân
dân và hệ thống Viện kiểm sát nhân dân độc lập với Chính phủ. Cũng từ năm 1960,
theo Luật Tổ chức Chính phủ, trong thành phần Chính phủ không có Bộ Tư pháp.
Các nhiệm vụ của Bộ Tư pháp về quản lý tổ chức và hoạt động của các cơ quan
điều tra (tư pháp công an), truy tố (viện công tố), xét xử (toà án), thi hành
án được chuyển giao cho Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân
dân tối cao và một phần cho chính quyền địa phương.
1.2. Tổ
chức Tư pháp (Pháp chế) trong giai đoạn 1960 - 1981.
Vụ Pháp
chế Thủ tướng Phủ (Văn phòng Chính phủ sau này) được thành lập theo Nghị định
số 504-TTg ngày 26/10/1957 đảm nhận công tác giúp Chính phủ xây dựng pháp luật
về kinh tế và hành chính. Vào năm 1960, Vụ trưởng là ông Phạm Khắc Hoè.
Năm 1972,
trong Tờ trình số 911-TC ngày 12/9/1972 do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký đã nhận
định: “Chúng ta chưa phát huy được đầy đủ tác dụng tích cực của pháp chế xã hội
chủ nghĩa trong mọi mặt hoạt động của Nhà nước. Công tác pháp chế chưa được gắn
chặt với toàn bộ việc quản lý nhà nước. Hệ thống tổ chức pháp chế chưa hình
thành ...”. Để khắc phục tình hình đó, Hội đồng Chính phủ đề nghị Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội phê chuẩn việc thành lập Uỷ ban Pháp chế của Hội đồng Chính phủ. Uỷ
ban Pháp chế là cơ quan chủ quản về mặt pháp chế của Hội đồng Chính phủ, được
phân công phụ trách công tác pháp chế do Hội đồng Chính phủ đảm nhiệm trong
việc quản lý nhà nước, đặc biệt trong việc quản lý kinh tế.
Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội đã phê chuẩn thành lập Uỷ ban Pháp chế bằng Nghị quyết số
223-NQ/QH-K4 ngày 14/9/1972 do Chủ tịch Trường Chinh ký.
Uỷ ban
Pháp chế được tổ chức và hoạt động theo Nghị định số 190/CP ngày 09/10/1972 của
Hội đồng Chính phủ với chức năng quản lý thống nhất công tác pháp chế của Hội
đồng Chính phủ. Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp chế là Ông Trần Công Tường (1972 - 1978),
Ông Nguyễn Ngọc Minh (1978-1979) và Ông Trần Quang Huy (1979 - 1981). Trụ sở
của Uỷ ban Pháp chế đặt tại số 5 Ông ích Khiêm – Hà Nội.
Hoạt động
của Uỷ ban Pháp chế từ khi thành lập cho tới khi tái lập Bộ Tư pháp chủ yếu tập
trung vào: Xây dựng pháp luật, tuyên truyền, giáo dục pháp luật, xây dựng hệ
thống tổ chức pháp chế ở các Bộ, Tổng cục, ở các tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương, quản lý một số tổ chức bổ trợ tư pháp và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ
cán bộ pháp luật.
Sau khi
miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, trong các năm 1975 - 1976,
Uỷ ban Pháp chế cùng với Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao đã hoàn tất việc tiếp quản trụ sở làm việc của các cơ quan tư pháp thuộc
chế độ nguỵ quyền và tiếp nhận bàn giao công việc của Bộ Tư pháp thuộc Chính
phủ Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam, thống nhất về mặt tổ chức, hoạt động
của các cơ quan pháp chế, toà án, kiểm sát trên toàn quốc.
Tổ chức và
hoạt động của cơ quan pháp chế ở các Bộ và Tổng cục, ở các tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương được thực hiện theo hướng dẫn của Uỷ ban Pháp chế tại Thông tư
số 100/VP ngày 10/5/1974. Hai chức năng chủ yếu của các cơ quan pháp chế là:
Thứ nhất, quản lý thống nhất công tác xây dựng và ban hành pháp luật, hướng dẫn
và theo dõi thi hành pháp luật, xây dựng cơ quan pháp chế cấp dưới, bồi dưỡng
cán bộ pháp chế, quản lý hành chính tư pháp; Thứ hai, làm tư vấn pháp luật cho
cơ quan lãnh đạo (Bộ, Tổng cục, ủy ban hành chính) về các vấn đề có liên quan đến
pháp chế.
Ngay trong
những năm đầu xây dựng ngành 1973 -1975, một số Bộ, Tổng cục đã thành lập Vụ
Pháp chế, Ban Pháp chế hoạt động hiệu quả như Bộ Giao thông Vận tải, Tổng cục
Bưu điện, Bộ Thuỷ lợi, Bộ Nội vụ (Công an), Bộ Quốc phòng, Ngoại giao, Ngoại
thương, Nội thương...
Tính đến
4/1975, ở Trung ương đã có 35/42 cơ quan có tổ chức pháp chế, ở địa phương có
16/25 tỉnh có tổ chức pháp chế thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương. Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, việc thành lập Ban Pháp
chế tỉnh được hưởng ứng ở hầu hết các tỉnh phía nam mà các địa phương mở đầu
thành lập vào cuối năm 1975 là thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng,
Đồng Tháp, Tiền Giang, Đồng Nai, Nghĩa Bình, Phú Khánh, Hậu Giang.
Hệ thống
pháp chế địa phương, sau năm 1976 đã lần lượt thành lập ở hầu hết các tỉnh,
hoạt động tới năm 1981 thì chuyển sang hình thức Sở Tư pháp.
1.3. Ngành
Tư pháp từ khi tái thành lập đến nay (1981- 2005).
Ngày 17
tháng 3 năm 1981, trong phiên họp về công tác nội chính, Bộ chính trị đã cho ý
kiến về việc thành lập Bộ Tư pháp làm nhiệm vụ của Uỷ ban Pháp chế của Chính
phủ và một phần nhiệm vụ của Toà án nhân dân tối cao – quản lý toà án địa
phương về tổ chức để Toà án nhân dân tối cao tập trung vào công tác xét xử,
giám đốc việc xét xử và tổng kết, hướng dẫn thực tiến xét xử. Đảng bộ Bộ Tư
pháp thuộc khối Nội chính Trung ương. Ban Nội chính Trung ương được giao cùng
Thường vụ Hội đồng Chính phủ và những cơ quan liên quan chuẩn bị Đề án về chức
năng, nhiệm vụ và tổ chức của Bộ Tư pháp trình Bộ Chính trị vào tháng 5 năm
1981 cùng với Luật tổ chức một số cơ quan Nhà nước theo Hiến pháp mới 19801.
Ngày 18
tháng 5 năm 1981, Uỷ ban Pháp chế của Chính phủ đã có Công văn số 163-VP trình
Bộ Chính trị và Thường vụ Hội đồng Chính phủ bản Đề án tổ chức tư pháp. Ngày
18/9/1981, Đề án tổ chức Bộ Tư pháp kèm theo Tờ trình số 51-TCCB đã được Uỷ ban
Pháp chế trình Hội đồng Bộ trưởng. Tại Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá VII,
Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng đã nhấn mạnh sự cần thiết phải thành
lập Bộ Tư pháp: “Thực tiễn trong hai mươi qua đã chứng minh rõ việc Hội đồng Bộ
trưởng – cơ quan quản lý toàn diện công việc của Nhà nước mà không có Bộ Tư
pháp là điều rất không hợp lý”. Hội đồng Bộ trưởng (và các Uỷ ban nhân dân địa phương)
không nắm được tình hình thi hành pháp luật, không nắm được tình hình xét xử
của các toà án, không gắn được việc xây dựng pháp luật với việc kiểm tra thi
hành pháp luật và điều hành công việc chung... Bộ Tư pháp là cơ quan của Hội
đồng Bộ trưởng thực hiện quản lý công tác tư pháp trong cả nước.
Bộ Tư pháp
được tái thành lập theo Nghị định số 143/HĐBT ngày 22/11/1981 của Hội đồng Bộ
trưởng với chức năng giúp Hội đồng Bộ trưởng thực hiện quản lý thống nhất các
việc về tư pháp trong cả nước, bao gồm xây dựng pháp luật, tuyên truyền, giáo
dục pháp luật, quản lý về mặt tổ chức các toà án nhân dân địa phương và quản lý
nhà nước các công tác tư pháp khác (luật sư, công chứng, giám định, ...), đào
tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ pháp luật trong cả nước. Bộ trưởng Bộ Tư pháp
thời kỳ này là đồng chí Phan Hiền. Trụ sở của Bộ Tư pháp đặt tại số 5 Ông ích
Khiêm (từ 1981-1987), sau đó chuyển về số 25A phố Cát Linh – Hà Nội (từ 1988 -
2002).
Chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của cơ quan tư pháp địa phương được quy định tại
Thông tư số 463-TCCB ngày 21/6/1988 của Bộ Tư pháp. Hệ thống cơ quan tư pháp
địa phương bao gồm: Sở Tư pháp ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và
cấp tương đương; Ban (sau đó chuyển thành Phòng) Tư pháp ở cấp quận, huyện, thị
xã và các đơn vị hành chính tương đương; Ban Tư pháp ở cấp xã, phường và các
đơn vị hành chính tương đương.
Chức năng,
nhiệm vụ của tổ chức pháp chế bộ, ngành được quy định tại Nghị định số 178/HĐBT
ngày 17/6/1985. ở các Bộ, các Uỷ ban Nhà nước và một số cơ quan khác thuộc Hội
đồng Bộ trưởng có Vụ Pháp chế. ở các sở chuyên môn, liên hiệp các xí nghiệp,
tổng công ty, xí nghiệp có cố vấn pháp luật.
Năm 1992,
Hiến pháp của thời kỳ đổi mới được Quốc hội thông qua. Năm 1993, Chính phủ ban
hành Nghị định số 38/CP ngày 4/6/1993 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và tổ chức Bộ Tư pháp trong thời kỳ đổi mới, trong giai đoạn 1993 - 2002, Bộ Tư
pháp được tiếp tục giao thêm nhiều trọng trách mới: quản lý công tác thi hành
án dân sự; thẩm định các dự án luật, pháp lệnh, các dự thảo nghị quyết, nghị
định của Chính phủ; đào tạo, bồi dưỡng thẩm phán và các chức danh tư pháp khác;
quản lý nhà nước công tác trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính
sách; công tác hoà giải; hoạt động bán đấu giá tài sản; hoạt động đăng ký giao
dịch bảo đảm; hoạt động hành nghề tư vấn pháp luật của Tổ chức luật sư nước
ngoài tại Việt Nam; tổ chức và hoạt động của các Trung tâm Trọng tài kinh tế...
Trong giai
đoạn này, cơ quan tư pháp địa phương được củng cố ở 3 cấp: Sở Tư pháp, Phòng Tư
pháp ở cấp huyện, Ban Tư pháp ở cơ sở xã, phường, thị trấn. Chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và tổ chức của cơ quan tư pháp địa phương được quy định tại Thông
tư số 12/TTLB ngày 26/7/1993. Chức năng, nhiệm vụ của tổ chức pháp chế bộ,
ngành được quy định tại Nghị định số 94/CP ngày 06/9/1997.
Bộ trưởng
Bộ Tư pháp giai đoạn này là đồng chí Nguyễn Đình Lộc. Trụ sở của Bộ Tư pháp đặt
tại số 25 A phố Cát Linh – Hà Nội (1993 - 2002) sau đó chuyển sang số 56-58-60
phố Trần Phú.
Hiến pháp
1992 sửa đổi năm 2001 khẳng định đường lối xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Năm 2003,
Chính phủ ban hành Nghị định số 62/2003/NĐ - CP ngày 6/6/2003 quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp để phù hợp với vị
trí của Bộ trong tiến trình cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Bộ Tư pháp là cơ quan của
Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác xây dựng pháp luật,
kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, thi hành án
dân sự, hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp và công tác tư pháp khác trong phạm
vi cả nước; thực hiện quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý
của Bộ theo quy định của pháp luật.
Chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của cơ quan tư pháp địa phương được quy
định tại Thông tư liên tịch số 04/2005/TTLT-TP-NV ngày 5/5/2005. Theo đó, các
cơ quan tư pháp địa phương gồm có Sở Tư pháp thuộc UBND cấp tỉnh, Phòng Tư pháp
thuộc UBND cấp huyện và Ban Tư pháp thuộc UBND cấp xã. Chức năng, nhiệm vụ của
tổ chức pháp chế bộ, ngành được quy định tại Nghị định số 122/2004/NĐ-CP ngày
18/5/2004.
Cho đến
nay, các cơ quan tư pháp đã được thành lập ở cả 4 cấp, từ Trung ương đến cấp xã
với hơn 2 vạn cán bộ công chức, trong đó có gần 1 vạn cán bộ tư pháp- hộ tịch
chuyên trách ở xã, phường, thị trấn.
Từ tháng
8/2002, Bộ trưởng Bộ Tư pháp là đồng chí Uông Chu Lưu. Trụ sở Bộ Tư pháp đặt
tại số 56-58-60 phố Trần Phú - Hà Nội.
2.
Những đóng góp cơ bản và thành tựu nổi bật của Ngành Tư pháp trong 60 năm qua.
2.1. Về
xây dựng pháp luật.
Với tư
cách là thành viên của Chính phủ và là cơ quan tham mưu của Chính phủ về mặt
pháp luật, Bộ Tư pháp đã đóng góp phần tích cực vào việc soạn thảo các bản Hiến
pháp của Nhà nước ta qua từng thời kỳ cách mạng, từ Hiến pháp đầu tiên năm 1946
của Nhà nước dân chủ nhân dân đến Hiến pháp 1992 của Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam.
Trong giai
đoạn 1945 - 1960, đóng góp quan trọng nhất và cũng là trọng tâm công tác xây
dựng pháp luật của Bộ Tư pháp là góp phần tạo lập nền tảng pháp lý cho sự hình
thành và củng cố chính quyền nhân dân, đặc biệt là tổ chức và hoạt động của các
cơ quan tư pháp, bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân. Ngoài việc tham
gia cùng các Bộ trình ban hành nhiều văn bản về tổ chức bộ máy nhà nước, Bộ Tư
pháp đã trực tiếp soạn thảo và trình Chủ tịch Chính phủ (sau là Chủ tịch nước)
ban hành hơn 90 sắc lệnh, Thủ tướng Chính phủ ban hành gần 30 nghị định, chỉ
thị thuộc các lĩnh vực hình sự, dân sự, các quyền tự do cá nhân, về tổ chức và quản
lý các toà án, các cơ quan tư pháp, các tổ chức bổ trợ tư pháp và các chức danh
tư pháp. Đồng thời, Bộ Tư pháp ban hành hơn 100 nghị định, thông tư và cùng một
số Bộ trong Chính phủ ban hành gần 90 văn bản liên bộ hướng dẫn thi hành các
vấn đề liên quan đến lĩnh vực tổ chức và hoạt động tư pháp. Dưới sự chỉ đạo
trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Tư pháp đã duy trì tổ chức và hoạt động
của Hội đồng tu luật Trung ương và các Ban tu luật đặt tại các Toà thượng thẩm
nhằm soạn thảo những bộ luật đầu tiên có tinh thần dân chủ và phù hợp với tình
trạng xã hội mới. Các dự thảo bộ Dân sự pháp điển, bộ Dân sự tố tụng pháp điển
tuy không được hoàn thành do điều kiện kháng chiến ác liệt nhưng những tinh
thần cơ bản đã được thể hiện trong Sắc lệnh số 97 năm 1950 về sửa đổi một số
quy lệ và chế định trong dân luật, có thể coi là cơ sở cho những nguyên tắc của
Bộ luật Dân sự 1995.
Từ năm
1957 đến năm 1960, hoà bình lập lại ở miền Bắc, Bộ Tư pháp tập trung vào việc
giúp Chính phủ, Quốc hội xây dựng Hiến pháp mới (1959) và các đạo luật về tổ
chức nhà nước, trong đó có các Luật Tổ chức Toà án nhân dân và Luật Tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân 1960; Luật Hôn nhân và gia đình 1959... Trong thời kỳ
chống Mỹ cứu nước, Ngành Tư pháp (Pháp chế) đã giúp Nhà nước ban hành một số
luật, pháp lệnh, nhiều văn bản pháp quy (nghị định, thông tư, điều lệ...) và
gần 5 vạn văn bản hướng dẫn về quản lý nhà nước trong mọi lĩnh vực, bảo đảm giữ
gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng cơ sở vật chất, kinh tế,
- kỹ thuật ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu đấu tranh thống nhất nước
nhà.
Sau ngày thống
nhất đất nước, một vấn đề cấp bách đặt ra là Nhà nước phải có một hệ thống pháp
luật thống nhất điều hành chung công việc của cả nước. Quốc hội giao cho Chính
phủ công bố bản Danh mục pháp luật thống nhất chọn trong các văn bản pháp luật
đang áp dụng tại Miền Bắc và trong các văn bản của Chính phủ Cách mạng Lâm thời
Cộng hoà Miền Nam Việt Nam có thể áp dụng chung cho cả hai miền.
Dựa trên
tinh thần chỉ đạo đó, Uỷ ban Pháp chế đã chủ trì cùng các Bộ, Tổng cục khẩn
trương làm việc trong 4 tháng để trình Chính phủ một danh mục pháp luật thống
nhất áp dụng trong cả nước.
Nghị quyết
số 76/CP ngày 25/3/1977 của Chính phủ công bố Danh mục gồm hơn 400 văn bản pháp
luật do Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam ban hành qua các
thời kỳ trong 14 lĩnh vực (14 phần của danh mục) về những vấn đề thiết yếu
nhất, cấp bách nhất và có thể thi hành được ngay, để đưa việc quản lý nhà nước,
quản lý xã hội, quản lý kinh tế vào nề nếp, làm cho tất cả mọi ngành hoạt động
đều có những pháp luật cần thiết.
Đối với
các văn bản do các Bộ ban hành, Hội đồng Chính phủ giao trách nhiệm cho các
đồng chí Bộ trưởng tiếp tục xem xét, lựa chọn để trình Chính phủ công bố và
hướng dẫn thi hành. Trước hết, các Bộ cần chú ý chọn các văn bản hướng dẫn thi
hành các văn bản pháp luật của Quốc hội và của Chính phủ nói trên. Tính đến 3/
1979, sau 3 đợt rà soát, công bố, đã có khoảng 700 văn bản pháp luật được áp
dụng thống nhất trong toàn quốc.
Chính phủ
giao cho Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trách nhiệm
phổ biến và hướng dẫn thi hành pháp luật thống nhất cho cán bộ và nhân dân
trong địa phương mình. Trong khi thi hành, nếu Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành
phố vùng mới giải phóng phát hiện có những điểm nào không thích hợp với địa
phương mình mà cần xin sửa đổi, bổ sung hoặc muốn đề nghị hoãn cho thi hành một
phần nào đó thì phải báo cáo lên Hội đồng Chính phủ quyết định. Trong khi chờ
đợi, vẫn phải thi hành nghiêm chỉnh, không được tự ý làm trái pháp luật của Nhà
nước. Các cơ quan giúp việc Hội đồng Chính phủ khi nhận được báo cáo và đề nghị
của Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố phải nhanh chóng nghiên cứu và đề nghị
Chính phủ giải quyết kịp thời và trả lời cho chính quyền địa phương.
Việc thống
nhất pháp luật là một sự kiện pháp lý có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo đảm
pháp chế xã hội chủ nghĩa của nước Việt Nam thống nhất, trong đó có sự đóng góp
chủ chốt, quan trọng của các cơ quan pháp chế từ trung ương đến địa phương,
pháp chế bộ, ngành.
Từ khi
thành lập lại năm 1981 đến nay, Bộ Tư pháp được giao chủ trì soạn thảo những bộ
luật, luật lớn có tính nền tảng của hệ thống pháp luật Việt Nam như Bộ luật
Hình sự 1986,1999, Bộ luật Tố tụng hình sự 1988, Luật Hôn nhân và Gia đình
1986, 2000, Bộ luật Dân sự năm 1995, 2005, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp
luật 1997, 2000. Đây là những mốc son đánh dấu những bước phát triển quan trọng
về trình độ lập pháp của Nhà nước ta, tạo điều kiện thuận lợi cho việc soạn
thảo các bộ luật, luật khác. Đồng thời, theo chức năng được giao, Bộ Tư pháp
tham gia cùng các Bộ, ngành soạn thảo hầu hết những đạo luật quan trọng trong công
cuộc đổi mới, đặc biệt là việc hình thành khung pháp luật cho sự hình thành,
phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Năm 2005,
Bộ Tư pháp đã giúp Chính phủ trình Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết về Chiến
lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định
hướng đến năm 2020 với trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Trong lĩnh
vực tư pháp, đặc biệt từ sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW
ngày 2/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian
tới, Bộ Tư pháp đã tích cực, chủ động phối hợp cùng các ngành trong Khối Nội
chính đẩy nhanh tiến độ xây dựng mới hoặc sửa đổi bổ sung trình Quốc hội, Uỷ
ban Thường vụ Quốc hội thông qua nhiều bộ luật, luật, pháp lệnh quan trọng về
tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, bổ trợ tư pháp như Nghị quyết số
388/2003/NQ-UBTVQH11 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho
người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng gây ra, Bộ luật Tố
tụng hình sự 2003, Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, Pháp lệnh về cơ quan điều tra
2004, Pháp lệnh Thi hành án dân sự 2004, Pháp lệnh Giám định tư pháp 2004...
Các văn bản này đã kịp thời thể chế hoá quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp
trong điều kiện hội nhập quốc tế, góp phần tạo sự đồng bộ giữa cải cách tư pháp
với cải cách lập pháp, hành pháp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà
nước theo các nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, theo Chương
trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khoá XI, Bộ Tư pháp đang khẩn
trương, tích cực soạn thảo Bộ luật Thi hành án, Luật về Luật sư, Pháp lệnh về
Công chứng, Luật Bồi thường Nhà nước... nhằm tiếp tục thực hiện sâu sắc hơn,
đồng bộ hơn mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm
minh, bảo vệ công lý, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc theo tinh thần Nghị
quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp
đến 2020 mà Bộ Tư pháp đã tham gia tích cực trong quá trình soạn thảo.
Theo Nghị
định số 38/CP, Bộ Tư pháp được giao nhiệm vụ xem xét và cho ý kiến về mặt pháp
luật và từ năm 1996, theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nhiệm vụ
thẩm định đối với các dự án luật, pháp lệnh, các dự thảo văn bản của Chính phủ
trước khi trình Chính phủ xem xét. Trung bình mỗi năm, Bộ Tư pháp thực hiện
thẩm định hàng trăm văn bản quy phạm pháp luật. Hoạt động thẩm định của Bộ Tư
pháp ngày càng góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng của các đạo
luật và tính thống nhất, khả thi của hệ thống pháp luật, đảm bảo giữ vững định
hướng chính trị của công cuộc đổi mới đồng thời tiếp cận, hội nhập với những
thành tựu của khoa học pháp lý thế giới. Theo sự phân công của Chính phủ, Bộ Tư
pháp đang chủ trì Đề án đổi mới cơ bản quy trình và nâng cao chất lượng ban
hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc Chương trình Cải cách hành chính của
Chính phủ giai đoạn 2001 - 2010.
Hướng dẫn,
tổ chức rà soát, hệ thống hoá pháp luật luôn là một lĩnh vực công tác quan
trọng của toàn Ngành Tư pháp. Bộ Tư pháp đã tham mưu để Chính phủ ban hành các
Chỉ thị về công tác rà soát, hệ thống hoá pháp luật trong từng thời kỳ và được
giao trách nhiệm là thường trực của Ban chỉ đạo thực hiện các chỉ thị đó, ví dụ
Chỉ thị số 166/HĐBT tháng 6/1989, Chỉ thị số 51/TTg ngày 24/11/1997 và Quyết
định số 355-TTg ngày 28/5/1997 của Thủ tướng Chính phủ về tổng rà soát, hệ
thống hoá văn bản quy phạm pháp luật từ năm 1976 đến năm1996. Hàng trăm ngàn
văn bản đã được pháp chế các bộ ngành, cơ quan tư pháp địa phương rà soát; hàng
chục ngàn văn bản đã được đề nghị huỷ bỏ, sửa đổi, bổ sung, góp phần khắc phục,
giảm bớt những mâu thuẫn, chồng chéo, lạc hậu trong hệ thống pháp luật. Đặc
biệt, Bộ Tư pháp đã và đang chủ trì hoặc tham gia phối hợp với các bộ, ngành
tiến hành các đợt rà soát, đối chiếu các văn bản quy phạm pháp luật của Trung
ương và địa phương để phục vụ cho việc Việt Nam đàm phán, ký kết Hiệp định
Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO,
AFTA..., ký kết, tham gia các điều ước quốc tế trong các lĩnh vực pháp luật và
tư pháp trong quá trình hội nhập quốc tế. Kết quả của đợt rà soát hơn 300 văn
bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Trung ương ban hành là Bản chào pháp luật
phục vụ các vòng đàm phán gia nhập WTO và các đề xuất bổ sung Chương trình xây
dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội năm 2005 - 2006. Các tổ chức pháp chế, các Sở
Tư pháp đã tham gia rất tích cực và hiệu quả vào công tác mới mẻ và khó khăn
này, bước đầu tạo được nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn trong toàn ngành về những
thách thức, yêu cầu, nhiệm vụ nặng nề của công tác xây dựng và thực hiện pháp
luật trong tiến trình hội nhập quốc tế.
Công
tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật theo Nghị định số 135/2003/NĐ-CP của
Chính phủ bắt đầu được triển khai từ năm 2004. Tuy là nhiệm vụ mới, nhưng toàn
ngành đã có những tìm tòi, sáng tạo các phương thức, biện pháp tổ chức thực
hiện với tinh thần tích cực, khẩn trương. Ngay trong năm đầu tiên, Bộ Tư pháp
đã tiến hành kiểm tra việc thực hiện Nghị định số 135 tại 28 bộ, cơ quan ngang
bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, 15 tỉnh, thành phố; tập huấn nghiệp vụ cho 1.484
cán bộ làm công tác kiểm tra văn bản trong toàn quốc; bước đầu kiện toàn về tổ chức,
biên chế, tạo lập nguồn lực và cơ chế quản lý thống nhất trong toàn quốc. Nhiều
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã thành lập Phòng Kiểm tra văn bản quy
phạm pháp luật. Sở Tư pháp các tỉnh đều rất chủ động thực hiện kiểm tra văn bản
theo kế hoạch được UBND phê duyệt, triển khai công tác này tới cấp huyện, cấp
xã. Tính đến tháng 6/2005, toàn Ngành Tư pháp đã tiếp nhận 71.984 văn bản để
kiểm tra và đã phát hiện được 4.940 văn bản có dấu hiệu trái pháp luật; trong
đó có thông báo và kiến nghị xử lý hơn một nghìn văn bản sai trái, số còn lại
đang được nghiên cứu, xử lý theo quy định.
2.2. Công
tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Việc tuyên
truyền, giáo dục và phổ biến pháp luật nhằm làm cho các tầng lớp nhân dân hiểu
rõ, hiểu đúng tinh thần và nội dung của pháp luật là một nhiệm vụ hết sức quan
trọng của Nhà nước, trong đó, Ngành Tư pháp tham gia với trách nhiệm chính. Trong
suốt 60 năm qua, nhất là từ sau ngày Bộ Tư pháp được thành lập lại, công tác
phổ biến giáo dục pháp luật đã được nhận thức ngày đầy đủ hơn về vai trò, vị
trí, được nâng cao hơn về chất lượng, đa dạng, phong phú hơn về hình thức, góp
phần quan trọng nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, trở thành một bộ phận
không thể thiếu được trong công tác giáo dục tư tưởng, chính trị. Năm 2003, Ban
Cán sự Đảng Bộ Tư pháp đã chủ trì soạn thảo, giúp Ban Cán sự Đảng Chính phủ
trình Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 32 CT/TW về tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức
chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân.
Từ chỗ
thực hiện việc tuyên truyền theo chiến dịch, thời điểm phục vụ việc triển khai
những văn bản pháp luật cụ thể như tuyên truyền Hiến pháp mới, Luật Hôn nhân và
gia đình, Bộ luật Hình sự....., đến nay, với sự tham mưu của Ngành Tư pháp,
công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã được thực hiện thường xuyên, có nề nếp
theo những chương trình quốc gia dài hạn (Chương trình phổ biến giáo dục pháp
luật 1998 - 2002 và 2003 - 2007, Chương trình hành động quốc gia phổ biến giáo
dục pháp luật từ năm 2005 - 2010 của Chính phủ) làm cơ sở xây dựng và
triển khai các kế hoạch phổ biến giáo dục pháp luật hàng năm của các ngành, địa
phương. Từ năm 1998 đến nay, Hội đồng phổ biến giáo dục pháp luật từ Trung ương
đến địa phương đã được thành lập và hoạt động khá hiệu quả, huy động được sức
mạnh, nguồn lực chung của các ngành, các cấp trong việc phổ biến, giáo dục pháp
luật...
Thực
hiện phương châm hướng về cơ sở, trong thời gian qua công tác xây dựng, khai
thác, quản lý tủ sách pháp luật xã phường thị trấn, hoà giải ở cơ sở đạt được
những kết quả đáng khích lệ. Hiện nay trên cả nước đã có trên 10.000 tủ sách
pháp luật tại các xã, phường, thị trấn, trên 120.000 tổ hoà giải tại các thôn,
bản, ấp, cụm dân cư được củng cố, kiện toàn.
Công tác
phổ biến, giáo dục pháp luật đang góp phần quan trọng nâng cao nhận thức và ý
thức chấp hành pháp luật của từng cán bộ, từng người dân. Sống và làm việc theo
Hiến pháp và pháp luật đang dần dần trở thành các chuẩn mực và định hướng giá
trị mới, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội; tình trạng khiếu nại tố cáo đã có
những chuyển biến tích cực; đội ngũ cán bộ công chức đã có ý thức nắm vững pháp
luật, năng lực vận dụng, thi hành pháp luật được nâng cao một bước rõ rệt.
2.3. Quản
lý Toà án địa phương về mặt tổ chức.
Chỉ 11
ngày sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, ngày 13/9/1945, Chính
phủ lâm thời đã ban hành đồng thời hai Sắc lệnh - một mặt, bãi bỏ hai ngạch
quan hành chính và quan tư pháp của chế độ cũ (Sắc lệnh số 32) mặt khác, theo
đề nghị của Bộ trưởng Tư pháp, thiết lập các toà án quân sự – những toà án đầu
tiên của chế độ mới (Sắc lệnh số 33C) có thẩm quyền xét xử tất cả những hành
động làm phương hại đến nền độc lập của đất nước. Tiếp theo đó, Bộ Tư pháp đã
nghiên cứu, đề xuất Chính phủ lâm thời ban hành Sắc lệnh số 13/SL ngày
24/1/1946 về tổ chức các toà án và các ngạch thẩm phán. Các toà án tư pháp đảm
nhiệm cả việc công tố, ngạch thẩm phán bao gồm cả thẩm phán xét xử và thẩm phán
buộc tội. Các toà án được tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc dân chủ,
tiến bộ như thực hiện hai cấp xét xử (sơ cấp, đệ nhị cấp và toà thượng thẩm),
toà án tư pháp độc lập với các cơ quan hành chính, các vị thẩm phán sẽ chỉ
trọng pháp luật và công lý; xét xử có phụ thẩm nhân dân tham gia, bảo đảm quyền
bào chữa của bị can. Khi cuộc kháng chíên bắt đầu chuyển hướng sang tổng phản
công, Bộ Tư pháp đã trình Chủ tịch nước ký ban hành Sắc lệnh số 85/SL ngày
22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng tạo nên bước chuyển đổi
quan trọng trong việc tăng cường tính chất nhân dân của nền tư pháp, dân chủ
hoá tổ chức và hoạt động của hệ thống toà án. Ngoài ra, theo yêu cầu nhiệm vụ
của từng giai đoạn trong cuộc kháng chiến, Bộ Tư pháp cùng với Bộ Quốc phòng,
Bộ Nội vụ trình Chủ tịch nước ký các sắc lệnh thành lập các toà án binh, toà án
đặc biệt, toà án nhân dân vùng tạm bị địch chiếm, toà án nhân dân đặc biệt vùng
phát động quần chúng thực hiện chính sách ruộng đất... Ngoài công tác tổ chức,
Ngành Tư pháp luôn chăm lo việc tuyển chọn, xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội
ngũ thẩm phán, dự thẩm, công tố viên, tư pháp công an... Bộ Tư pháp và các Sở
Tư pháp khu, liên khu đã chỉ đạo kịp thời và sát sao các toà án về đường lối
truy tố, xét xử nhất là các vụ án phương hại đến an ninh chính trị, trật tự xã
hội, đặc biệt là ở vùng tác chiến, các vụ tham ô, buôn lậu... Hoạt động xét xử
nghiêm minh của các toà án đã tích cực góp phần củng cố chính quyền nhân dân,
giữ vững đời sống yên lành ở hậu phương, tạo niềm tin trong chiến sĩ, cán bộ và
nhân dân vào đường lối và thắng lợi của cuộc kháng chiến. Nhận xét về đội ngũ
cán bộ tư pháp thời kỳ này, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp Vũ Đình Hoè viết:
“Nhiều anh em giác ngộ cao về khẩu hiệu Tư pháp kháng chiến, đã xông vào địch
hậu, mở phiên toà lưu động ngay cạnh đồn bốt giặc để tuyên truyền giáo dục nhân
dân và lôi kéo nguỵ binh trở về chính nghĩa; có người đã hy sinh tính mệnh,
được anh em suy tôn là “chiến sĩ trên mặt trận Tư pháp”, góp phần xương máu với
các mặt trận kinh tế, văn nghệ, giáo dục, y tế, v.v... của cuộc kháng chiến
toàn dân, toàn diện oai hùng của dân tộc”2.
Năm 1981,
ngay sau khi được tái thành lập, Bộ Tư pháp đã được Nhà nước giao nhận lại nhiệm
vụ quản lý toà án nhân dân địa phương về mặt tổ chức. Trong suốt 20 năm qua,
cùng với sự phát triển, đi lên của đất nước, các toà án nhân dân địa phương và
các toà án quân khu và tương đương, toà án quân sự khu vực ngày càng được củng
cố và phát triển về mọi mặt, đáp ứng được yêu cầu của xã hội, niềm tin của nhân
dân trong việc xét xử các vụ án hình sự, giải quyết các tranh chấp về dân sự,
kinh tế, lao động, hành chính và các việc khác theo quy định của pháp luật.
Bằng các hoạt động của mình, có sự phối hợp với các cơ quan nhà nước hữu quan, với
các tổ chức chính trị, xã hội, các toà án nhân dân địa phương và các toà án
quân sự cấp quân khu và khu vực đã có những đóng góp to lón trong việc thực
hiện nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa
và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể; bảo vệ
tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân; giáo dục công dân
trung thành với tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những quy
tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, các vi
phạm pháp luật khác.
Xuất phát
từ yêu cầu cải cách tư pháp, ngày 02/01/2002 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị
quyết số 08 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
đã xác định toà án nhân dân tối cao quản lý các toà án địa phương về mặt tổ
chức. Thi hành Luật Tổ chức Toà án nhân dân 2002, ngày 25/9/2002 tại Bộ Tư pháp
lễ bàn giao công tác quản lý toà án nhân dân địa phương, toà án quân sự quân
khu và tương đương, toà án quân sự khu vực về mặt tổ chức từ Bộ Tư pháp sang
Toà án nhân dân tối cao đã được tiến hành.
Tính đến
thời điểm bàn giao, về tổ chức bộ máy, hệ thống toà án gồm có 61 toà án nhân
dân cấp tỉnh, 629 toà án nhân dân cấp huyện, 09 toà án quân sự cấp quân khu và
17 toà án quân sự khu vực. Các toà án nhân dân địa phương, các toà án quân sự
cấp quân khu và khu vực đều đã được sắp xếp, thành lập đủ cơ cấu bộ máy và bố
trí đủ các chức danh lãnh đạo và chuyên môn nghiệp vụ theo quy định pháp luật.
Về số lượng đội ngũ cán bộ, các toà án nhân dân địa phương có 8.644 người/8807
biên chế (cấp tỉnh có 2824 người; cấp huyện có: 5820 người), trong đó có 3270
thẩm phán (cấp tỉnh có: 915 thẩm phán; cấp huyện có: 2355 thẩm phán); thẩm phán
toà án quân sự cấp quân khu có 48 người, thẩm phán toà án quân sự khu vực có 64
người. Về chất lượng cán bộ, các toà án nhân dân địa phương có 70% cán bộ, công
chức có trình độ đại học luật trở lên (cấp tỉnh: 73,5%; cấp huyện: 68%). Số
thẩm phán toà án nhân dân địa phương có trình độ đại học luật trở lên là 85%
(cấp tỉnh 86,8%; cấp huyện: 84,4%). Số thẩm phán còn lại đều có trình độ tương
đương đại học luật: 100% thẩm phán toà án quân sự cấp quân khu và khu vực có
trình độ đại học luật trở lên. Số lượng hội thẩm đương nhiệm của các toà án
nhân dân địa phương là 11.409 người, hội thẩm quân nhân của các toà án quân sự cấp
quân khu và khu vực là 518 người. Trong suốt 20 năm qua việc đào tạo, bồi
dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ thẩm phán và cán bộ toà án địa phương luôn
được Bộ Tư pháp xác định là nhiệm vụ trọng tâm, là khâu đột phá trong công tác
quản lý toà án địa phương về mặt tổ chức. Có thể khẳng định rằng, phần lớn cán
bộ toà án địa phương có phẩm chất chính trị vững vàng, có đạo đức tốt, có năng
lực chuyên môn, nghiệp vụ có bản lĩnh nghề nghiệp, lòng yêu nghề và sẵn sàng
chấp nhận gian khổ khó khăn.
Về cơ sở
vật chất, tính đến thời điểm bàn giao, hầu hết các toà án nhân dân địa phương
đã được xây dựng trụ sở mới hoặc được sửa chữa nâng cấp một cách cơ bản. Các
toà án nhân dân địa phương cũng đã từ